Các loại Dục

Tìm hiểu về các loại Dục

Khi dịch từ pali sang thì Chanda, Lobha, Pema, Kama, Tanha đều dịch là Dục (ghi chú của Mạnh)

  • Chanda: Là muốn, là muốn làm, muốn thực hiện cái gì đó... như khi đói muốn ăn, khi khát muốn uống, muốn cắm hoa, muốn đọc sách... Tất cả cái muốn này là tự nhiên, là bình thường; chúng chỉ là ước muốn thuần tuý, chưa có dục, tham, ái gì cả. Nhưng kinh điển ở đâu cũng dịch là dục thì dễ sinh nhầm lẫn, ngộ nhận thật nguy hiểm vậy.

  • Lobha: Do ngữ căn “lubh” là nắm giữ, ôm ấp. Tất cả những trạng thái tâm muốn ôm ấp, cầm nắm, bám víu, chiếm hữu, chiếm đoạt, san đoạt, vơ vét, cướp giật... tạo ra “lực hút” đều gọi là tham.

Tham có tính chất dính mắc, giống như mủ mít đối với ruồi, giống như nhựa để bẫy chim. Tất cả chúng đều đưa đến đau khổ, thống khổ, càng vùng vẫy càng bị siết chặt. Có nhiều mức độ khác nhau của tham. Có cái tham thô tháo, hạ liệt, thú tính. Có cái tham trung bình, vừa phải, rất người. Có cái tham vi tế dường như rất đẹp, rất thanh cao.

Các loài thú và người nhiều tham sân si thường có cái tham thô tháo, hạ liệt. Người nhiều nhân tính có cái tham chừng mực, vừa phải. Người có đời sống tinh thần thăng hoa thường có cái tham vi tế; ví dụ: mến thích một khung cảnh u nhã, yêu thích một câu thơ thanh cao, muốn nghe một bản hoà tấu êm đềm, ngắm nhìn một tác phẩm điêu khắc tuyệt hảo, thích thú một mùi hương nhẹ, kín, thanh khiết...

“Thời Phật tại thế, có một vị tỳ-khưu trên đường khất thực trở về thấy có một hồ sen nước xanh trong, hương sen thơm ngào ngạt; vị ấy xuống tắm và thú vị ngửi hương thơm ấy. Vài lần như thế vị tỳ-khưu đâm ra khó bỏ sở thích của mình. Có một vị trời trông thấy, đã nói lên một câu kệ, chê trách “nhẹ nhàng” vị tỳ-khưu ấy là ‘kẻ trộm hương sen’.

  • Pema: Là tình thương, sự yêu mến, tình thân ái trong cuộc sống đời thường. Pema này là vòng tay dịu dàng mềm mại gắn kết tình cảm giữa cha mẹ, vợ chồng, con cái, thầy trò, bè bạn, quyến thuộc, xóm làng... Nó là cái đẹp giữa đời thường, là trái tim trong cuộc sống, nếu thiếu nó thì thế gian sẽ khô cỗi, vô cảm, dửng dưng, lạt lẽo. Chỉ khi pema vượt quá giới hạn sinh ra đam luyến, dính mắc, đem lại sầu bi ưu não cho nhau thì không còn giữ được tính chất đẹp của nó nữa, đã bước sang dạng khác rồi. Như thế, pema cũng chưa phải là dục, là tham, là ái gì cả.

  • Kāma: Ưa muốn, thích muốn, tham muốn vật chất. Ở đây bắt đầu xuất hiện năng lực của tham hay dục. Cũng từ ước muốn, thích muốn mà sinh tham muốn. Từ tham muốn vật chất, ham muốn ngũ trầnmà sinh ra tham dục; và khi muốn hưởng thụ, lại tạo ra mê đắm, đam chấp. Cũng do từ kāma này mà sinh ra mọi hành động thiện hay ác. Nếu thiện thì được làm người hữu phúc, hoá sinh vào 6 cõi trời dục giới. Nếu là bất thiện thì sinh làm người bất hạnh và 4 đường khổ. Do vậy, tham muốn cõi dục được gọi là kāma taṇhā. Ở đây, xuất hiện thêm từ taṇhā để xác định là cái dục, cái tham này đã bước lên một cấp độ khác, có dấu vết của nguy hiểm rồi.

  • Taṇhā: Được dịch là ái hay dục, còn được dịch là ái dục, dục lạc. Taṇhā này nó nằm khắp ba cõi: Ái cõi dục giới là kāma taṇhā. Ái cõi sắc giới là rūpa taṇhā - tức là chán cõi dục vật chất, mong thụ hưởnghỷ lạc của tinh thần. Ái cõi vô sắc giới là arūpa taṇhā – là chán cõi sắc giới, chỉ mong thụ hưởng trạng thái xả và nhất tâm của cõi vô sắc. Ba cái taṇhā này còn được hiểu sâu thêm một chút khi tu tập minh sát. Nếu ta đang dính mắc, say đắm trong các dục hiện tại (dục lạc ngũ trần) thì gọi là *kāma taṇhā.*Nếu ta thích thú cái gì đó, mong nó còn mãi bên ta – mong nó thường tồn, cầm giữ, níu giữ mãi sợ nó mất đi thì được gọi là bhava-taṇhā. Những người tu học mà mong đến cõi vĩnh hằng, thường lạc, thường ngã thì rơi vào ái này, nên bhava-taṇhā còn được dịch là hữu ái (do tham) rơi vào thường kiến. Ngược lại, nếu ta không thích cái gì, không vừa lòng điều gì, đối tượng nào, hoàn cảnh nào, ta lại muốn chối bỏ, phủ nhận, muốn chấm dứt, muốn triệt tiêu thì rơi vào abhava-taṇhā, là phi hữu ái (do sân), rơi vào đoạn kiến.

Còn nữa, trong thập nhị duyên khởi, taṇhā được dịch là ái (ái, thủ, hữu), ngại rằng không nói đủ nghĩa của taṇhā. Tại sao vậy? Vì trong taṇhā, ở nơi taṇhā, cái gì thích thì phát sanh tham, cái gì không thich thì phát sanh sân. Vậy ở trong taṇhā nó có đầy đủ tham, sân, thương, ghét! Ta phải nhận diện chúng, thấy rõ chúng, nếu không, không thể tu tập minh sát để chấm dứt khổ (dukkha) được!

  • Rāga: Là dục, ái dục, là tình dục. Đây là dục nguy hiểm nhất trong quan hệ, ái luyến nam nữ. Nếu say mê đeo đuổi dục tình, đắm đuối trong tình dục thì được gọi là rāga. Nó như uống nước mặn, càng uống càng khát, không bao giờ thoả mãn cơn khát. Bản chất của tình dục là càng thêm thì càng thiếu. Đến quả vị thánh A-na-hàm mới cắt được rāga này (2)arrow-up-right. Không ngạc nhiên gì khi bà Visākhā, vị thánh Nhập Lưu mà có đến 20 người con, gồm 10 trai, 10 gái, vì bà mới vào dòng giải thoát, mới cắt được 3 sợi đầu, nhưng*“tình dục”* và “bất bình” thì còn y nguyên (3)arrow-up-right.

Tuy nhiên, ta hãy lưu ý:

  • Nếu rāgapema tiếp sức, do sự thương yêu chân thành, thuỷ chung như tiền thân Bồ-tát và nàng Yasodharā thì sợi dây luyến ái, buộc ràng kia trở thành chất keo gắn kết họ với nhau trên con đường tu tập công hạnh ba-la-mật.

  • Trong tình thương, yêu mến, thân ái (pema), trong ham muốn ngũ trần (kāma), trong ái dục, dục lạc*(taṇhā),* và trong tình dục (rāga) đều có sự tham dự của tâm sở tham (lobha), tạo nên sự dính mắc. Nếu tất cả chúng (pema, kāma, taṇhā, rāga) được hướng dẫn đúng đắn, được trí tuệ soi đường, được nhiều thiện pháp nâng đỡ - thì chúng tạo nên sự đồng lòng, chung sức, tiến tu, hướng thượng rất tốt vậy!

(Lưu ý thêm, ngoài bài: Đối với Phật giáo Nam tông, học Phật, tu Phật nên đi thẳng vào từ Pāḷi hoặc ít ra là có từ Pāḷi đi kèm để khỏi lân lộn giữa các khái niệm. Nói thật, tôi cũng đã từng “điên đầu” về những từ như dục, ái, tham, ái luyến, ái dục, hỷ tham, ái tham, dục tham, tình dục, dục ái... và cho đếnbây giờ vẫn còn lẫn lộn, đôi nơi chưa điều chỉnh, đính chính được. Chúng ta cứ thử tưởng tượng, từ ngữ nguyên Pāḷi như trên mà dịch ra “vài lần” sang ngôn ngữ khác thì khái niệm ban đầu bị lệch nghĩa, sai trật như thế nào? Và có lẽ Bắc truyền cũng vậy, dường như thầy Tuệ Sỹ có khuyến cáo Tăng Nisinh là nên học Sanskrit, nếu không sẽ rơi vào “Phật của Tàu” mà không hề biết! Cẩn bút).

MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH

Last updated

Was this helpful?